Điều trị bệnh vẩy nến [Những nguyên tắc cần biết]

01/11/2018

Vẩy nến là bệnh ngoài da không hiếm gặp, thường kéo dài dai dẳng và khó chữa. Ngoài ra, vẩy nến còn là một bệnh có tính di truyền. Chính vì vậy trong quá trình điều trị bệnh vẩy nến cần tuân thủ những nguyên tắc và chỉ định cần thiết.

điều trị bệnh vảy nến
Những hướng điều trị bệnh vảy nến

Tổng quan về bệnh vẩy nến

Bệnh vẩy nến (psoriasis) là một trong những bệnh ngoài da khá phổ biến trên thế giới. Tùy theo từng khu vực, tỉ lệ mắc bệnh vẩy nến có thể khác nhau (khoảng 2% dân số châu Á, châu Phi, khoảng 5% dân số châu Âu). Đồng thời, tỉ lệ bệnh vẩy nến chiếm khoảng 10% trong tổng số các bệnh ngoài da.

Người mắc bệnh vẩy nến thường có những dấu hiệu đặc trưng như có mảng da dày, đỏ, xuất hiện các chấm nhỏ rải rác, khô và nứt da, có thể kèm theo chảy máu. Xuyên suốt thời gian bị vẩy nến, bệnh nhân cũng có cảm giác ngứa rát trên da hoặc đau nhức âm ỉ. Một số bệnh nhân có thêm các triệu chứng tổn thương móng, sưng và cứng khớp. Tùy theo đặc điểm thương tổn mà vẩy nến có thể được chia làm một số dạng như:

  • Vẩy nến thể mảng bám ngoài da.
  • Vẩy nến thể tròn.
  • Vẩy nến thể mụn mủ.
  • Vẩy nến thể đốm.
  • Vẩy nến bàn tay, bàn chân.
  • Vẩy nến móng.
  • Và một số thể vẩy nến hiếm gặp khác.

Hiện tại vẫn chưa rõ những nguyên nhân gây ra bệnh vẩy nến nhưng theo các chuyên gia, bệnh vẩy nến có thể liên quan đến một số yếu tố bao gồm:

  • Di truyền (chiếm khoảng 30% trường hợp mắc bệnh vảy nến). Bệnh vảy nến di truyền được cho là có liên quan đến một số kháng nguyên trong cơ thể bệnh nhân.
  • Nhiễm khuẩn cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh vẩy nến. Nguyên nhân này gặp nhiều ở trẻ em hơn so với người lớn vì độ tuổi này có hệ miễn dịch yếu.
  • Căng thẳng, stress cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh, trong đó bao gồm cả bệnh vẩy nến.
  • Kích ứng sau khi sử dụng một số thuốc điều trị cũng là yếu tố góp phần gây ra bệnh vảy nến, đặc biệt là kích ứng do sử dụng các thuốc corticoid, thuốc chẹn beta, thuốc có chứa lithium và một số nhóm thuốc khác.
  • Thương tổn do Kobner qua các hoạt động cơ học như chà xát, gãi,… các hoạt động hóa học, lý học đến từ môi trường cũng có thể kích thích bệnh vẩy nến phát triển.

Nhìn chung bệnh vẩy nến là một trong những bệnh ngoài da khá khó chữa do đặc điểm bệnh là mãn tính, có khả năng tái lại cao. Hướng điều trị hiện nay là điều trị triệu chứng theo từng đợt đồng thời kết hợp các biện pháp phòng ngừa tái phát vẩy nến ngoài da.

Hướng điều trị bệnh vẩy nến

Đối với người mắc bệnh vẩy nến, để điều trị đạt hiệu quả cao cần tuân thủ những nguyên tắc then chốt bao gồm: điều trị sớm, đúng hướng, dùng đúng thuốc, áp dụng các biện pháp vệ sinh, các biện pháp phòng ngừa tái phát. Tùy theo mức độ và diện tích vùng da bị vẩy nến mà việc điều trị có thể là điều trị tại chỗ hoặc điều trị toàn thân.

1. Điều trị vẩy nến tại chỗ

Điều trị tại chỗ là phương pháp điều trị cho những trường hợp vẩy nến rải rác trên vùng da của bệnh nhân. Tác dụng chính của điều trị tại chỗ là khoanh vùng và thu hẹp các mảng da bị vẩy nến, tránh lan rộng sang các vùng da khác. Sau điều trị kết hợp các biện pháp phòng ngừa tái phát để vùng da bị thương tổn không tiếp tục tái phát lại.

Đối với điều trị tại chỗ, những thuốc thường được chỉ định đa phần là các loại thuốc mỡ, các thuốc dạng kem hoặc các loại dung dịch có tác dụng tiêu sừng, bong vẩy, loại bỏ các mảng vẩy nến trên da. Một số thuốc điều trị tại chỗ thường được sử dụng gồm có:

Thuốc mỡ Salicyle

Thành phần chính của thuốc mỡ Salicyle là acid Salicylic (Beta Hydroxy Acid – BHA). Tùy theo mức độ và mục đích điều trị bệnh mà acid Salicylic có thể được điều trị với hàm lượng hoạt chất khác nhau kèm theo một số thành phần phụ như lưu huỳnh. Acid Salicylic có tác dụng làm tróc các lớp sừng ngoài da, giúp chống tiết bã nhờn, cải thiện tình trạng vẩy nến và một số bệnh ngoài da do nấm, bệnh nước ăn da,…

Do Acid Salicylic là acid có gốc dầu nên có thể thấm xuyên qua những lỗ chân lông bị tăng tiết bã nhờn. Qua đó acid Salicylic sẽ phá vỡ dễ dàng những mảng tế bào chết đã bị dính vào nhau ở vị trí vùng da vẩy nến. Ngoài tác dụng hủy lớp sừng tại vùng da bị vẩy nến, thuốc mỡ Salicyle cũng có tác dụng ngăn chặn một phần quá trình tăng sinh lớp sừng mới cũng như hỗ trợ sát khuẩn nhẹ trên vùng da đang được điều trị. Đây được xem là một trong những thuốc điều trị chính cho bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến.

Lưu ý: đối với một số trường hợp điều trị bệnh vẩy nến có các triệu chứng viêm thâm nhiễm nền cứng cộm, thuốc mỡ Salicylic không có tác dụng đói với những triệu chứng này.

điều trị vẩy nến bằng thuốc điều trị tại chỗ
Điều trị bệnh vẩy nến bằng thuốc điều trị tại chỗ

Thuốc Goudron

Goudron thuộc nhóm thuốc khử oxy có 2 dạng chính dựa theo nguồn gốc là dạng Goudron chưng cất từ quá trình phân hủy các cây gỗ chứa nhựa, nhất là nhựa thông hoặc điều chế Groudron từ nguồn gốc than đá. Thuốc có nhiều dạng như dung dịch cồn, bột nhão, dạng mỡ bôi ngoài da và dạng Goudron nguyên chất. Đây là thuốc được sử dụng phổ biến trong điều trị nhiều bệnh ngoài da trong đó có vẩy nến và bệnh Eczema.

Tùy theo mức độ bệnh mà thuốc Groudron có thể dùng đơn thuần hoặc phối trộn với một số thành phần như diêm sinh, resorcin, acid salicylic,… Tác dụng chính của Groudron là làm tan vẩy, tan nhiễm cộm và giảm tình trạng thương tổn do bệnh vẩy nến trên da.

Tuy nhiên thuốc Groudron có một số nhược điểm là có mùi rất khó chịu, hắc, dễ dây bẩn quần áo khi sử dụng. Sử dụng Groudron trong điều trị cần tính toán thời gian sử dụng cho hợp lý vì nếu dùng lâu ngày có thể phát sinh thêm một số vấn đề ngoài da khác, trong đó có bệnh viêm nang lông.

Thuốc Anthralin

Tương tự như thuốc Goudron, thuốc Anthralin cũng là một trong những loại thuốc khử oxy được sử dụng nhiều để ức chế thương tổn ngoài da. Thuốc có tác dụng tích cực trong điều trị bệnh vẩy nến, Eczema trên da. Antharlin thường được chỉ định sử dụng trong những trường hợp tiếp xúc ngắn. Thuốc Antharlin thường được dùng trong điều trị với nồng độ từ 0,1 – 0,3%.

Thuốc mỡ Corticoid

Nhóm thuốc mỡ Corticoid thường được sử dụng rộng rãi trong điều trị nhiều bệnh ngoài da. Những biệt dược chính trong thuốc mỡ Corticoid gồm có Flucinar, Synalar, Eumovate, Lorinden, Betnovate, Tempovate,… Cơ chế chính của thuốc mỡ Corticoid là chống viêm, ức chế huy động bạch cầu đa nhân trên vùng da bị thương tổn.

Thuốc mỡ Daivomex

Thuốc mỡ Daivomex là nhóm chất đồng đẳng với vitamin D3. Sử dụng thuốc mỡ Daivomex giúp kiểm soát quá trình tăng sinh tế bào sừng và ức chế chúng, tránh để quá trình tăng sinh tiến triển mạnh hơn. Nhóm chất này chỉ sử dụng cho những trường hợp vẩy nến khu trú trên da, ngoài ra không sử dụng trên vùng mặt. Thuốc mỡ Daivomex chỉ sử dụng khi có chỉ định cần thiết, tránh lạm dụng để đề phòng tăng canxi huyết hoặc nguy cơ thâm dát kéo dài trên da.

Ngoài một số thuốc bôi kể trên, bệnh nhân còn có thể được điều trị bằng một số loại thuốc bôi ngoài da khác hoặc phối hợp các thuốc bôi trong điều trị để đạt hiệu quả cao. Đồng thời, các biện pháp điều trị tại chỗ cũng có thể được chỉ định điều trị phối hợp với các biện pháp điều trị toàn thân.

2 Điều trị vẩy nến toàn thân

Điều trị toàn thân là giải pháp cho những trường hợp bệnh vẩy nến trên diện rộng, kéo dài. Những phương pháp điều trị vẩy nến toàn thân gồm có các biện pháp như:

Phương pháp Quang hóa trị liệu

Quang hóa trị liệu (photo chemotherapy) là phương pháp được sử dụng nhiều trong điều trị một số vấn đề ngoài da mãn tính. Đối với phương pháp Quang hóa trị liệu, các bác sĩ thực hiện theo 2 bước:

  • Cho bệnh nhân sử dụng thuốc cảm ứng ánh sáng Psoralen.
  • Dùng tia cực tím sóng A (UVA) có bước sóng từ 320 – 400 nm.

Tác dụng chính của phương pháp quang hóa trị liệu là giúp làm sạch thương tổn trên da, hỗ trợ chống phân bào, ngăn ngừa tái phát các triệu chứng của bệnh vẩy nến. Tuy nhiên trong điều trị quang hóa trị liệu cũng có thể có một số tác dụng phụ như đỏ da, buồn nôn, có phỏng nước và một số tác dụng phụ khác.

điều trị vẩy nến bằng quang trị liệu
Điều trị vẩy nến bằng quang trị liệu

Điều trị bằng liệu pháp sinh học

Sử dụng liệu pháp sinh học (Biotherapy) trong điều trị là một trong những hướng điều trị mới đối với các bệnh ngoài da. Tuy nhiên điều trị bằng liệu pháp sinh học không phải bệnh nhân nào cũng có thể thực hiện được nên mức độ phổ biến chưa rộng rãi. Do đó đây được đánh giá là một phương pháp tiềm năng trong tương lai nhưng vẫn cần phải nghiên cứu mở rộng.

Trên đây là một số vấn đề bạn cần biết về bệnh vẩy nến, một số nguyên tắc và cách điều trị bệnh vẩy nến hiện nay. Do đặc thù bệnh khó chữa, dai dẳng, dễ tái phát nên bệnh nhân cần lưu ý thăm khám và điều trị sớm để được bác sĩ hướng dẫn các bước cần thiết trong quá trình điều trị. Chúc bạn sớm cải thiện được căn bệnh ngoài da khó chịu này.

Hiểu thêm về bệnh vẩy nến

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *